Hoàn thiện chính sách thúc đẩy doanh nghiệp phát triển bền vững

In bài viết
(DNVN) - Tại diễn đàn "Doanh nghiệp phát triển bền vững vì lợi ích cộng đồng" vào sáng ngày 12/12, bà Nguyễn Lê Vinh - Đại diện Viện Chiến lược phát trển nhìn nhận, thời gian qua Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại nhều bất cập.
 
Theo bà Nguyễn Lê Vinh, trong thời gian qua rất nhiều chiến lược và chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp (DN) phát triển. Cụ thể: Chương trình Nghị sự 21của quốc gia (Ban hành năm 2004); Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (Ban hành năm 2012); Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 (Ban hành năm 2012), Chương trình Nghị sự 2030 của quốc gia (Ban hành năm 2017) với 17 mục tiêu, nhiệm vụ phát triển bền vững;Và các chính sách phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN),doanh nghiệp ngoài nhà nước (DN ngoài NN) và DN FDI...
Tuy nhiên, theo bà Vinh dù rất nhiều chiến lược, chính sách được đưa ra những vẫn còn nhiều tồn tại nhều bất cập. Đơn cử như, hiệu quả hoạt động của DNNN )chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ; năm 2017, doanh thu của khối DNNN chiếm tỷ lệ thấp nhất (khoảng 15,13%) trong tổng doanh thu DN cả nước. Nhiều DNNN ở tình trạng thua lỗ kéo dài, chỉ số nợ cao nhất trong các loại hình doanh nghiệp.

Năng lực cạnh tranh còn hạn chế, chưa tạo được động lực đối với nền kinh tế, vai trò dẫn dắt trong nền kinh tế của DNNN còn mờ nhạt. Tính công khai, minh bạch của DNNN còn thấp, dù đã được cải thiện. Chương trình thoái vốn chậm tiến độ, mới hoàn thành tại 95 doanh nghiệp, 150 DN chưa hoàn thành. Tổng số có 230 DN đang triển khai chuyển giao về SCIC để thoái vốn.

Trong khi đó DN ngoài nhà nước chiếm tỷ lệ áp đảo lên tới 96,7% tổng số DN, hoạt động đa ngành, lĩnh vực; Hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh dần được nâng lên; hình thành được một số tập đoàn tư nhân có quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Nhưng hệ thống cơ chế, chính sách phát triển DN ngoài NN còn thiếu đồng bộ, chưa rõ ràng, dẫn đến cơ chế “xin - cho”, thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, dẫn đến tình trạng nhũng nhiễu, gây khó khăn cho DN còn khá phổ biến.

Hoàn thiện chính sách thúc đẩy doanh nghiệp phát triển bền vững ảnh 1
 Bà Nguyễn Lê Vinh - Đại diện Viện chiến lược phát trển. Ảnh DNVN./Minh Hoa.
Hầu hết DN ngoài NN có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ, quản trị, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm thấp; Nhiều doanh nghiệp tư nhân ngừng hoạt động và phá sản. Vi phạm pháp luật, cạnh tranh không lành mạnh, sản xuất gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm; gian lận thương mại… diễn ra khá phổ biến và phức tạp. Thiếu liên kết với nhau; chưa đáp ứng chuỗi giá trị sản xuất khu vực và toàn cầu và hội nhập quốc tế.
Còn đối với DN FDI: Năm 2018, DN FDI đóng góp khoảng 298 nghìn tỷ đồng, chiếm 20,9% tổng thu NSNN và là nguồn thu chủ yếu ở một số địa phương như Vĩnh Phúc (93,5%), Bắc Ninh (72%), Đồng Nai (63%), Bắc Giang (60%) và Bình Dương (52%),... Tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Nhưng chính sách ưu đãi còn dàn trải, thiếu nhất quán, không ổn định. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi để thu hút vốn FDI vào các vùng sâu, vùng xa, ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, đến năm 2017, FDI đầu tư vào ngành Nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 1%, đầu tư vào vùng Trung du miền núi phía Bắc chỉ chiếm 4,7% tổng vốn FDI đăng ký. Hầu hết vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực chế biến, chế tạo và kinh doanh bất động sản (hai lĩnh vực chiếm ~ 75% vốn FDI đăng ký).
Tình trạng chuyển giá, các DN FDI có lãi nhưng liên tục báo lỗ để trốn thuế, song vẫn tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất. Khi hết kỳ hạn ưu đãi, họ thay đổi dự án hiện tại thành dự án mới về mặt pháp lý, để tiếp tục được hưởng ưu đãi thuế, đất đai. Việc liên kết và chuyển giao công nghệ giữa các DN FDI với DN trong nước chưa hiệu quả. Nhiều DN FDI đã nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất lên tới 95% do không có DN Việt Nam nào đáp ứng đủ điều kiện đầu vào do DN FDI đặt ra. Một số DN FDI còn vi phạm vấn đề bảo vệ môi trường. Cơ chế, năng lực xử lý tranh chấp hiệu lực chưa cao. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đầu tư nước ngoài còn bất cập, thiếu chuyên nghiệp.
Do đó, trong bối cảnh đem đến nhiều thời cơ và thách thức; cơ hội về ngành nghề mới, phương thức kinh doanh kiểu mới, song cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu về nắm vững công nghệ thông tin, tính chuyên nghiệp, liên kết và chia sẻ… Bà Lê Vinh đưa ra kiến nghị để Chính sách phát triển DN Nhà nước theo hướng bền vững.
Cụ thể: Đối với DNNN cần cơ cấu lại, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế thị trường theo hướng cổ phần hoá, bán vốn của DNNN mà Nhà nước không cần nắm giữ hoặc không giữ quyền chi phối, kể cả những doanh nghiệp đang kinh doanh có hiệu quả; Xử lý dứt điểm các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các dự án, công trình đầu tư của DNNN kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài. Cho phá sản các DNNN yếu kém. Tách bạch rõ chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước với chức năng quản lý nhà nước, chức năng quản trị kinh doanh. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát, kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động của DNNN; không để xảy ra thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước.
Đối với DN ngoài NN: Tiếp tục sửa đổi cơ chế, chính sách phát triển DN ngoài NN cho  đồng bộ, giảm tối đa thủ tục hành chính gây khó khăn, phiền hà cho DN. Phát huy phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; hỗ trợ hoạt động của các DN nhỏ và vừa. Khuyến khích hình thành, phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân đầu tầu, đa sở hữu. Tạo điều kiện để kinh tế tư nhân từng bước tham gia sâu, vững chắc vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Xây dựng chính sách khuyến khích DN ngoài NN góp vốn, mua cổ phần vào các tập đoàn kinh tế nhà nước khi cổ phần hoá hoặc thoái vốn, tạo điều kiện để DN ngoài NN tham gia cơ cấu lại DNNN; Đẩy mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện cho DN ngoài NN tham gia cung cấp dịch vụ công.
Về phía DN FDI, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách về đầu tư nước ngoài, khắc phục những bất cập hiện nay, đảm bảo phù hợp chuẩn mực quốc tế, tạo điều kiện cho các DN FDI được phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhà đầu tư FDI.
Hoàn thành xây dựng Chiến lược FDI thế hệ mới. Tiếp tục thu hút FDI một cách chủ động, có chọn lọc, xác định rõ ngành, lĩnh vực và vùng, miền ưu tiên đầu tư, bảo đảm theo đúng định hướng, quy hoạch và yêu cầu phát triển. Xây dựng chính sách ưu đãi vượt trội đối với các dự án lớn, trọng điểm quốc gia, dự án công nghệ cao..., các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia đầu tư, đặt trụ sở và thành lập các trung tâm nghiên cứu - phát triển (R&D), trung tâm đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
Hoàn thiện chính sách thuế, chống lại hiện tượng chuyển giá, lãi thật lỗ giả, trốn thuế, đầu tư "chui", đầu tư "núp bóng" của một số nhà đầu tư nước ngoài. Bổ sung quy định "điều kiện về quốc phòng, an ninh" trong quá trình xem xét các hoạt động đầu tư thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần. Xây dựng cơ chế rà soát an ninh đối với các hoạt động đầu tư nước ngoài có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Cắt giảm các ưu đãi dư thừa, giảm sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật về ưu đãi thu hút đầu tư. (ví dụ: cần ưu đãi dựa trên hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN, chỉ các DN sản xuất kinh doanh có lãi, đóng thuế nhiều mới được nhận các ưu đãi về miễn giảm thuế, đất đai…).
Nhóm PV

bài liên quan

tin bài khác